Ngày 1 tháng 1 là ngày đầu năm vì người La Mã cổ đại, từ năm 153 TCN, cho các quan chấp chính nhậm chức vào ngày này, và lịch Julius do Julius Caesar ban hành năm 46 TCN giữ nguyên mốc đó. Tuy nhiên, châu Âu thời trung đại từng đón năm mới vào nhiều ngày khác nhau như 25/3 hay 25/12; phải tới thế kỷ 16–18, ngày 1/1 mới dần được các nước thống nhất lại.
Lịch dương mà thế giới dùng hôm nay là lịch Gregory, ban hành năm 1582 để sửa sai số tích luỹ của lịch Julius, bằng cách bỏ đi mười ngày. Các nước áp dụng lịch này vào những thời điểm rất khác nhau, từ năm 1582 tới đầu thế kỷ 20. Bài này đi qua câu chuyện đó theo trình tự thời gian, kèm bảng các mốc áp dụng và những hiểu lầm hay gặp.
Lịch La Mã và ngày 1 tháng 1
Lịch La Mã cổ nhất, theo truyền thống, chỉ có mười tháng, bắt đầu từ tháng Ba (Martius), và mùa đông là khoảng thời gian không được đặt tên tháng. Dấu vết của lịch này còn trong tên các tháng tiếng Anh, tiếng Pháp: September, October, November, December vốn nghĩa là tháng thứ bảy, tám, chín, mười. Truyền thống La Mã gán việc thêm hai tháng Januarius và Februarius cho vua Numa Pompilius; đây là truyền thuyết, không có tư liệu đương thời.
Mốc chắc chắn hơn là năm 153 TCN: từ năm này, các quan chấp chính (consul), hai người đứng đầu nhà nước La Mã được bầu hằng năm, bắt đầu nhiệm kỳ vào ngày 1 tháng 1. Người La Mã gọi tên năm theo tên hai quan chấp chính, nên ngày nhậm chức trở thành ngày đầu năm hành chính. Tháng Januarius mang tên thần Janus, vị thần hai mặt của cửa và sự khởi đầu, nên rất hợp làm tháng đầu năm.
Lịch La Mã trước Caesar là âm dương lịch, phải chèn tháng nhuận theo quyết định của các tư tế. Việc chèn tháng bị chi phối bởi chính trị, có năm bị bỏ qua, có năm chèn tuỳ tiện, khiến lịch lệch khỏi mùa nhiều tuần. Đây là lý do dẫn tới cải cách của Julius Caesar.
Lịch Julius: năm 365 ngày và một ngày nhuận
Năm 46 TCN, Julius Caesar, với sự tư vấn của nhà thiên văn Sosigenes thành Alexandria, ban hành lịch mới dựa hoàn toàn vào Mặt Trời: năm có 365 ngày, cứ bốn năm thêm một ngày nhuận. Để kéo lịch về đúng mùa, năm 46 TCN bị kéo dài thành khoảng 445 ngày, về sau được gọi là “năm hỗn loạn”. Lịch Julius có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 45 TCN.
Năm trung bình của lịch Julius dài 365,25 ngày, trong khi năm chí tuyến (khoảng thời gian giữa hai lần xuân phân) dài khoảng 365,2422 ngày. Chênh lệch khoảng 11 phút mỗi năm nghe nhỏ, nhưng cộng dồn thành khoảng một ngày sau mỗi 128 năm. Sau hơn một nghìn năm, xuân phân trên lịch đã lệch khoảng mười ngày so với thực tế.
Sai lệch này đặc biệt quan trọng với việc tính ngày lễ Phục sinh, vốn phụ thuộc vào xuân phân. Từ thời trung đại, nhiều học giả đã chỉ ra vấn đề, nhưng phải tới thế kỷ 16, một cuộc cải cách mới được thực hiện.
Tên hai tháng giữa năm cũng là dấu vết của thời này: tháng Quintilis (thứ năm) được đổi tên thành Julius để tôn vinh Caesar, và tháng Sextilis (thứ sáu) về sau đổi thành Augustus để tôn vinh hoàng đế đầu tiên. Đó là nguồn gốc của July và August trong tiếng Anh. Câu chuyện phổ biến rằng tháng Tám được thêm một ngày để không thua tháng Bảy là giai thoại xuất hiện muộn, không có cơ sở trong tư liệu La Mã.
Châu Âu trung đại: năm mới mỗi nơi một ngày
Dù lịch Julius giữ ngày 1/1 là ngày đầu tháng Giêng, ngày được coi là đầu năm (để đánh số năm) ở châu Âu trung đại lại rất đa dạng. Một số kiểu phổ biến:
- Ngày 25 tháng 12: tính năm từ ngày Giáng sinh, dùng ở nhiều nơi thời sơ kỳ trung đại.
- Ngày 25 tháng 3: ngày lễ Truyền tin, dùng rộng rãi ở Anh cho tới năm 1752, cũng như ở một số thành bang Ý.
- Lễ Phục sinh: dùng ở Pháp thời trung đại; vì Phục sinh là ngày lễ di động, độ dài của năm thay đổi mỗi năm.
- Ngày 1 tháng 1: vẫn được dùng trong dân gian như ngày đầu năm, và được nhiều nơi chính thức hoá trở lại từ thế kỷ 16.
Sự đa dạng này gây không ít rắc rối cho các nhà sử học khi đọc văn bản cổ: một sự kiện xảy ra tháng 2 có thể được ghi vào hai năm khác nhau tuỳ nơi. Ở Anh trước năm 1752, các văn bản tháng 1 – tháng 3 thường ghi kép, như “1750/51”. Pháp chính thức lấy 1/1 làm đầu năm theo một sắc lệnh năm 1564, Scotland từ năm 1600.
Cải cách năm 1582: bỏ mười ngày
Tháng 2 năm 1582, Giáo hoàng Gregory XIII ban hành sắc chỉ cải cách lịch, dựa trên đề xuất của nhà y học, thiên văn Aloysius Lilius và được nhà toán học Christopher Clavius hoàn thiện. Cải cách có hai phần. Phần thứ nhất là bỏ mười ngày để đưa xuân phân về khoảng ngày 21 tháng 3: ngày thứ Năm 4 tháng 10 năm 1582 được nối tiếp bởi ngày thứ Sáu 15 tháng 10. Thứ trong tuần không bị gián đoạn.
Phần thứ hai là sửa quy tắc năm nhuận để sai số không tích luỹ trở lại: năm chia hết cho 4 là năm nhuận, trừ năm chia hết cho 100; nhưng năm chia hết cho 400 vẫn là năm nhuận. Vì vậy năm 1700, 1800, 1900 không nhuận, còn năm 1600 và năm 2000 nhuận. Năm trung bình của lịch Gregory dài 365,2425 ngày, chỉ lệch năm chí tuyến khoảng 26 giây, tương đương một ngày sau khoảng ba nghìn năm.
Bạn có thể tự kiểm quy tắc này: trong 400 năm có 100 năm chia hết cho 4, trừ 3 năm thế kỷ không chia hết cho 400, còn 97 năm nhuận. Tổng số ngày là 400 × 365 + 97 = 146.097 ngày; chia cho 400 ra đúng 365,2425 ngày mỗi năm.
Đón năm mới qua các thời
Người La Mã đón ngày 1 tháng 1 bằng việc trao nhau lời chúc, những món quà nhỏ như cành cây, quả chà là, mật ong, và về sau là tiền xu, gọi là strenae. Đây là ngày của khởi đầu tốt đẹp, gắn với thần Janus. Khi Kitô giáo trở thành đức tin chính thức của đế quốc rồi lan khắp châu Âu, nhiều nhà truyền giáo và các hội đồng giám mục thời trung đại phản đối những tục đầu năm mang dấu vết lễ hội cũ, và điều này góp phần khiến ngày 1/1 mất vị trí đầu năm ở nhiều nơi trong một thời gian dài.
Ngày 1/1 dần lấy lại vị trí trong thời cận đại, cùng với việc các nhà nước chuẩn hoá lịch. Mỗi vùng phát triển cách đón riêng: ở Scotland có Hogmanay với tục “người bước qua cửa đầu tiên”, giống tục xông đất của người Việt; ở Tây Ban Nha có tục ăn mười hai quả nho theo mười hai tiếng chuông nửa đêm, phổ biến từ đầu thế kỷ 20. Lễ thả quả cầu ở quảng trường Thời Đại, New York, bắt đầu từ đêm giao thừa năm 1907.
Ở Việt Nam, ngày 1/1 được gọi là Tết Dương lịch hay “Tết Tây”, là ngày nghỉ lễ chính thức nhưng ý nghĩa văn hoá nhỏ hơn nhiều so với Tết Nguyên Đán. Các hoạt động đếm ngược, bắn pháo hoa đêm 31/12 ở các thành phố lớn mới phổ biến trong vài thập kỷ gần đây. Một nước có hai “năm mới” cách nhau vài tuần là chuyện quen thuộc ở nhiều nơi châu Á, nơi lịch truyền thống và lịch hành chính cùng tồn tại.
Các nước áp dụng lịch Gregory khi nào
Vì cải cách xuất phát từ Rome, các nước theo Công đồng Trent áp dụng sớm, còn các nước khác áp dụng muộn hơn nhiều, có nơi tới hơn ba thế kỷ sau. Một số mốc tiêu biểu:
| Nước / vùng | Năm áp dụng | Ghi chú |
|---|---|---|
| Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, các bang Ý, Ba Lan | 1582 | Áp dụng ngay theo sắc chỉ |
| Pháp | Cuối năm 1582 | Chậm hơn vài tuần |
| Nhiều bang Đức chưa áp dụng trước đó, Đan Mạch, một phần Hà Lan | Khoảng năm 1700 | Phải bỏ 11 ngày |
| Anh và các thuộc địa (gồm Bắc Mỹ) | 1752 | Ngày 2/9 nối tiếp bởi ngày 14/9; năm 1752 cũng là năm Anh chính thức lấy 1/1 làm đầu năm |
| Thuỵ Điển | 1753 | Sau một lần chuyển đổi dần dang dở đầu thế kỷ 18 |
| Nhật Bản | 1873 | Thời Minh Trị, bỏ âm dương lịch trong hành chính |
| Trung Hoa | 1912 | Dùng trong hành chính; âm lịch vẫn dùng cho lễ truyền thống |
| Nga | 1918 | Ngày 31/1 nối tiếp bởi ngày 14/2, bỏ 13 ngày |
| Hy Lạp | 1923 | Một trong những nước châu Âu cuối cùng chuyển đổi |
Ở Việt Nam, lịch dương được dùng trong bộ máy hành chính thời thuộc Pháp, song song với âm lịch do triều Nguyễn ban hành. Ngày nay, dương lịch là lịch chính thức trong hành chính, còn âm lịch được dùng cho Tết và các ngày lễ truyền thống.
Những hiểu lầm hay gặp
“Người Anh nổi loạn đòi lại mười một ngày”. Câu chuyện dân Anh xuống đường năm 1752 đòi “trả lại mười một ngày” rất phổ biến, một phần nhờ bức tranh của hoạ sĩ William Hogarth có khẩu hiệu tương tự. Các nhà sử học tra cứu báo chí thời đó không tìm thấy bằng chứng về bạo loạn quy mô lớn; khẩu hiệu nhiều khả năng là chuyện trào phúng chính trị thời đó.
“Lịch Gregory là lịch hoàn hảo”. Lịch Gregory vẫn có sai số nhỏ, khoảng một ngày sau ba nghìn năm. Ngoài ra, độ dài các tháng không đều, ngày trong tuần không lặp lại cố định theo ngày tháng. Nhiều đề xuất lịch mới đã được đưa ra trong thế kỷ 20 nhưng không được chấp nhận rộng rãi.
“Năm mới 1/1 có từ thời Chúa Giêsu”. Ngày 1/1 có từ trước, gắn với lịch hành chính La Mã năm 153 TCN. Cách đánh số năm theo Công nguyên do tu sĩ Dionysius Exiguus đề xuất ở thế kỷ 6, và chỉ phổ biến dần trong nhiều thế kỷ sau.
“Không có năm 0”. Đúng vậy: theo cách đánh số Công nguyên truyền thống, năm 1 TCN được nối tiếp bởi năm 1 Công nguyên. Vì thế, về mặt số học, thế kỷ 21 bắt đầu từ ngày 1/1/2001, dù phần lớn mọi người đón mốc năm 2000.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao năm mới dương lịch là ngày 1 tháng 1?
Vì từ năm 153 TCN, người La Mã cho các quan chấp chính nhậm chức vào ngày 1 tháng 1, biến ngày này thành đầu năm hành chính. Lịch Julius năm 46 TCN và lịch Gregory năm 1582 đều giữ mốc này, dù châu Âu trung đại từng dùng nhiều ngày đầu năm khác.
Lịch Gregory khác lịch Julius thế nào?
Cả hai đều có năm 365 ngày và năm nhuận 366 ngày. Lịch Julius nhuận mỗi bốn năm, trong khi lịch Gregory bỏ nhuận ở các năm chia hết cho 100 nhưng không chia hết cho 400. Nhờ đó lịch Gregory sát với năm Mặt Trời hơn nhiều.
Năm 1582 đã mất những ngày nào?
Ở các nước áp dụng ngay, ngày thứ Năm 4 tháng 10 năm 1582 được nối tiếp bởi ngày thứ Sáu 15 tháng 10, tức bỏ mười ngày từ 5 tới 14 tháng 10. Các nước áp dụng muộn hơn phải bỏ nhiều ngày hơn vì sai lệch tiếp tục tích luỹ.
Năm 2100 có phải năm nhuận không?
Không. Năm 2100 chia hết cho 100 nhưng không chia hết cho 400, nên theo quy tắc của lịch Gregory nó không phải năm nhuận. Năm nhuận thế kỷ gần nhất sau năm 2000 là năm 2400.
Vì sao Nga có “Cách mạng tháng Mười” diễn ra vào tháng 11?
Vì năm 1917 nước Nga còn dùng lịch Julius, chậm hơn lịch Gregory 13 ngày. Sự kiện diễn ra ngày 25 tháng 10 theo lịch Julius, tức ngày 7 tháng 11 theo lịch Gregory. Nga chuyển sang lịch Gregory năm 1918.