Ngày 29 tháng 5 năm 1453, quân đội Ottoman do sultan Mehmed II chỉ huy chiếm được Constantinople sau một cuộc vây kéo dài khoảng tám tuần, chấm dứt Đế quốc Byzantine, nhà nước kế tục Đế quốc La Mã ở phương Đông. Hoàng đế cuối cùng, Constantine XI Palaiologos, tử trận trong ngày thành thất thủ. Mehmed II dời đô về đây, và thành phố trở thành trung tâm của Đế quốc Ottoman trong gần năm thế kỷ.
Trong sách giáo khoa, năm 1453 thường được dùng làm một trong các mốc kết thúc thời trung đại. Nhưng đến lúc đó Byzantine chỉ còn là một thành phố với vài vùng đất nhỏ, còn Ottoman đã là cường quốc trải trên hai châu lục hơn một thế kỷ. Bài này đi từ sự lớn mạnh của Ottoman, diễn biến cuộc vây theo các nguồn, tới ý nghĩa của sự kiện và những cách hiểu cần điều chỉnh.
Ottoman lớn mạnh: từ một tiểu quốc biên giới tới cường quốc
Các mốc đầu của nhà Ottoman được biết chủ yếu qua biên niên viết muộn hơn, nên một số năm chỉ là quy ước.
- Khoảng 1299: năm quy ước Osman I lập tiểu quốc ở tây bắc Anatolia, vùng biên giới với Byzantine, một trong nhiều tiểu quốc Thổ sau khi nhà Seljuk Rum suy yếu.
- 1326: chiếm Bursa, thành phố lớn đầu tiên, làm kinh đô.
- 1354: sau một trận động đất làm sập tường thành Gallipoli, quân Ottoman chiếm thành và có chỗ đứng ở châu Âu.
- Thập niên 1360: Edirne thành kinh đô ở bên châu Âu; Constantinople bị bao quanh bởi đất Ottoman.
- 1389: trận Kosovo với liên minh các vương hầu Balkan.
- 1396: đánh bại một đạo quân thập tự chinh lớn ở Nicopolis trên sông Danube.
- 1402: Timur đánh bại và bắt sultan Bayezid I ở Ankara; nhà Ottoman rơi vào khoảng mười năm tranh chấp giữa các hoàng tử.
- 1444: thắng trận Varna, đánh bại thập tự chinh cuối cùng nhằm cứu Constantinople bằng đường bộ.
- 1451: Mehmed II, khi ấy khoảng mười chín tuổi, lên ngôi lần thứ hai.
Có thể thấy Byzantine tồn tại được tới năm 1453 phần lớn nhờ tường thành và nhờ những biến cố làm Ottoman chậm lại, như thất bại năm 1402. Từ cuối thế kỷ 14, các hoàng đế Byzantine nhiều lần phải nộp cống và có khi đi theo quân Ottoman với tư cách chư hầu.
Constantinople trước cuộc vây: một thành phố đã teo nhỏ
Đến giữa thế kỷ 15, Constantinople không còn là đô thị đông đúc của thời Justinian. Sau năm 1204, các đợt dịch hạch và hàng loạt cuộc nội chiến, dân số chỉ còn khoảng vài chục nghìn người theo các ước tính, sống thành những cụm làng rải rác bên trong vòng tường thành rộng lớn, xen giữa là vườn tược, đồng cỏ và nhà thờ bỏ hoang. Khách phương Tây tới thăm mô tả một thành phố đẹp nhưng buồn, nhiều dinh thự đổ nát.
Kinh tế của thành phố phần lớn nằm trong tay thương nhân Venice và Genoa. Người Genoa có hẳn một khu riêng ở Galata, bên kia vịnh Sừng Vàng, gần như tự trị và giữ thái độ trung lập lúc cuộc vây bắt đầu. Đế quốc chỉ còn thu được rất ít thuế, phải dựa vào các khoản vay và tiền cống của các vùng nhỏ ở Peloponnese.
Trong nội bộ, xã hội Byzantine chia rẽ về vấn đề hợp nhất với Giáo hội Rome. Tại Công đồng Florence năm 1439, đại diện Byzantine đã chấp nhận hợp nhất để mong được phương Tây cứu viện, nhưng phần lớn giáo sĩ và dân chúng phản đối. Sử gia Doukas chép lời một đại quan nói rằng thà thấy khăn xếp của người Thổ ở giữa thành còn hơn mũ của giáo sĩ Latinh; câu này thường được trích, nhưng nên hiểu là lời kể của một tác giả, không phải biên bản. Nó cho thấy sự cay đắng còn lại từ năm 1204.
Chuẩn bị: pháo đài trên eo biển và những khẩu đại bác
Mehmed II coi việc chiếm Constantinople là mục tiêu hàng đầu. Năm 1452, ông cho xây trong vài tháng một pháo đài ở bờ châu Âu của eo Bosphorus, đối diện một pháo đài có sẵn bên bờ châu Á, nay gọi là Rumeli Hisarı. Hai pháo đài khống chế đoạn hẹp nhất của eo biển, cắt đường tiếp tế từ biển Đen cho Constantinople.
Ông cũng đầu tư vào pháo binh. Các nguồn kể về một thợ đúc tên Urban, người Hungary hoặc vùng Transylvania, ban đầu đến chào hàng cho hoàng đế Byzantine nhưng không được trả đủ tiền, rồi chuyển sang phục vụ sultan và đúc cho ông những khẩu đại bác lớn khác thường. Đại bác đã được dùng ở châu Âu từ thế kỷ 14, nhưng cuộc vây năm 1453 là một trong những lần đầu chúng đóng vai trò chính trong việc phá một hệ thống tường thành lớn.
Phía Byzantine, Constantine XI cầu viện phương Tây. Giáo hoàng và Venice chỉ gửi được sự trợ giúp hạn chế. Một chỉ huy người Genoa là Giovanni Giustiniani Longo mang khoảng bảy trăm người đến và được giao phòng thủ đoạn tường quan trọng. Theo Georgios Sphrantzes, quan chức thân cận của hoàng đế, cuộc kiểm đếm trước cuộc vây chỉ ra được chưa tới năm nghìn người Hy Lạp có thể cầm vũ khí, cộng thêm khoảng hai nghìn người nước ngoài. Quân Ottoman đông hơn nhiều lần, với ước tính hiện đại dao động rộng.
Diễn biến cuộc vây, tháng 4 – tháng 5 năm 1453
Diễn biến được ghi lại khá chi tiết bởi nhiều người có mặt, như Sphrantzes, thầy thuốc Venice Nicolò Barbaro, và các nguồn Ottoman; giữa các nguồn có những chỗ không khớp.
- Đầu tháng 4: quân Ottoman dàn trận trước tường thành phía đất liền; đại bác bắt đầu bắn phá.
- Tháng 4: một sợi xích lớn chắn cửa vịnh Sừng Vàng ngăn hạm đội Ottoman vào. Ngày 20 tháng 4, vài chiếc tàu tiếp tế từ phương Tây vượt qua được hạm đội Ottoman để vào thành.
- 22 tháng 4: Mehmed cho kéo hàng chục chiếc thuyền trên đường gỗ bôi trơn qua ngọn đồi phía sau khu Galata, hạ thuỷ vào Sừng Vàng, vượt qua sợi xích. Từ đây thành phố phải chia lực lượng ra bảo vệ cả tường phía vịnh.
- Tháng 5: các đợt tấn công, đào đường hầm và phản công xen kẽ; quân phòng thủ sửa chữa tường mỗi đêm. Có những cuộc thương lượng không thành.
- Rạng sáng 29 tháng 5: tổng tấn công. Giustiniani bị thương nặng và rút khỏi tường; quân Ottoman vào được thành. Constantine XI tử trận; các nguồn không thống nhất về hoàn cảnh cụ thể.
Sau khi chiếm thành, quân Ottoman cướp phá theo tập quán chiến tranh thời đó, và một phần lớn cư dân bị bắt làm tù binh. Theo một số nguồn, Mehmed II cho dừng việc cướp phá sớm hơn thời hạn đã hứa với binh lính, rồi bắt đầu lo tái thiết thành phố mà ông định biến thành kinh đô.
Sau năm 1453: từ Constantinople tới thủ đô Ottoman
Mehmed II, từ đây được gọi là Fatih, "người chinh phục", muốn có một kinh đô xứng với tham vọng đế quốc, không phải một thành phố đổ nát. Ông chuyển nhà thờ Hagia Sophia thành thánh đường Hồi giáo, cho xây cung điện, chợ, thánh đường mới, và đưa dân từ nhiều vùng trong đế quốc về định cư, gồm người Thổ, người Hy Lạp, người Armenia, người Do Thái.
Ông chỉ định một thượng phụ mới cho cộng đồng Chính Thống, học giả Gennadios Scholarios, và giao cho thượng phụ trách nhiệm với cộng đồng tín hữu của mình. Mô hình các cộng đồng tín ngưỡng tự quản về hôn nhân, thừa kế, giáo dục dưới quyền tối cao của sultan về sau gọi là hệ thống millet; thuật ngữ này dùng phổ biến muộn hơn, và cách hệ thống vận hành thay đổi nhiều qua các thế kỷ. Năm 1492, khi Tây Ban Nha trục xuất người Do Thái, nhiều người tìm đến định cư ở các thành phố Ottoman.
Về tên gọi, người Thổ đã gọi thành phố là Istanbul trong lời ăn tiếng nói từ lâu, có lẽ từ một cụm tiếng Hy Lạp nghĩa là "vào thành". Văn bản hành chính Ottoman vẫn dùng tên Kostantiniyye cho tới thế kỷ 20. Tên Istanbul chỉ trở thành tên chính thức duy nhất năm 1930, thời Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ.
Ba cách nhìn về năm 1453
Cùng một sự kiện, ký ức của các cộng đồng rất khác nhau. Trình bày cạnh nhau giúp hiểu vì sao năm 1453 vẫn mang nhiều tầng nghĩa.
| Góc nhìn | Ý nghĩa của năm 1453 |
|---|---|
| Người Hy Lạp Chính Thống | Sự mất mát của "Thành phố" và của đế quốc nghìn năm; nhiều bài ca thương và truyền thuyết về vị hoàng đế cuối cùng ra đời. Năm 1453 trở thành mốc đau buồn trong ký ức dân tộc Hy Lạp. |
| Ottoman và người Thổ | Một cuộc chinh phục vĩ đại, hiện thực hoá ước nguyện được nhắc trong truyền thống Hồi giáo về việc chiếm Constantinople, và là nền móng của một đế quốc trải ba châu lục. Ngày 29 tháng 5 vẫn được kỷ niệm ở Istanbul. |
| Tây Âu Latinh | Một cú sốc. Giáo hoàng Pius II kêu gọi một cuộc thập tự chinh mới nhưng không thành. Đồng thời, Venice và Genoa nhanh chóng thương lượng để giữ quyền buôn bán với chính quyền mới. |
Sử học hiện nay không chọn một góc nhìn nào làm chuẩn, mà dùng cả nguồn Hy Lạp, Latinh và Ottoman để dựng lại sự kiện, đồng thời ghi nhận ý nghĩa khác nhau của nó với từng cộng đồng.
Những cách hiểu cần điều chỉnh
Năm 1453 thường được gán cho nhiều hệ quả lớn. Một số đúng một phần, một số bị phóng đại.
| Nhận định quen thuộc | Đánh giá hiện nay |
|---|---|
| Học giả Hy Lạp chạy sang Ý sau năm 1453 làm nảy sinh Phục Hưng | Học giả Byzantine đã sang Ý dạy tiếng Hy Lạp từ trước, như Manuel Chrysoloras ở Florence từ năm 1397. Năm 1453 làm dòng người này tăng thêm, nhưng Phục Hưng đã bắt đầu từ trước đó. |
| Ottoman chặn đường buôn gia vị, buộc châu Âu tìm đường biển | Phần lớn sử gia kinh tế không đồng ý: Venice vẫn buôn gia vị qua các cảng Levant và Ai Cập; người Bồ Đào Nha đã thám hiểm bờ biển châu Phi từ đầu thế kỷ 15 vì những lý do riêng. |
| Byzantine sụp đổ vì đế quốc mục nát | Đến năm 1453, Byzantine đã mất gần hết lãnh thổ từ lâu; sự kết thúc là hệ quả của hơn một thế kỷ Ottoman lớn mạnh và của những tổn thất từ năm 1204. |
| Năm 1453 là ngày kết thúc thời trung đại | Đây là một mốc quy ước trong nhiều mốc, cùng với năm 1492 hay khoảng năm 1500. Không ai sống năm 1454 cảm thấy mình đã bước sang "thời cận đại". |
Đế quốc Ottoman còn mở rộng mạnh trong thế kỷ tiếp theo, chiếm Syria và Ai Cập của nhà Mamluk năm 1517, vây Vienna năm 1529 dưới thời Suleiman, và tồn tại cho tới đầu thế kỷ 20.
Câu hỏi thường gặp
Mehmed II bao nhiêu tuổi khi chiếm Constantinople?
Ông sinh năm 1432, nên khi thành thất thủ năm 1453 ông khoảng hai mươi mốt tuổi. Trước đó ông đã từng ngồi ngôi một thời gian ngắn khi còn nhỏ, rồi lên ngôi lần thứ hai năm 1451 sau khi cha là Murad II qua đời.
Tường thành Constantinople còn không?
Phần lớn tường Theodosius phía đất liền vẫn còn ở Istanbul, kéo dài khoảng sáu km từ biển Marmara tới vịnh Sừng Vàng, nhiều đoạn đã được trùng tu. Chúng thuộc khu vực lịch sử của Istanbul được UNESCO ghi danh là Di sản thế giới năm 1985.
Ngoài Constantinople, Byzantine còn vùng nào sau năm 1453?
Còn Despotate xứ Morea ở bán đảo Peloponnese, do các em của Constantine XI cai trị, bị Ottoman chiếm năm 1460; và Đế quốc Trebizond ở bờ biển Đen, một nhà nước Hy Lạp tách ra từ năm 1204, bị chiếm năm 1461.
Vì sao thuyền Ottoman phải kéo qua đồi?
Vì cửa vịnh Sừng Vàng bị một sợi xích lớn chắn ngang, được các tàu phương Tây bảo vệ. Kéo thuyền qua đất liền phía sau khu Galata giúp hạm đội Ottoman vào được vịnh mà không phải phá xích. Đây là một trong những chi tiết được nhiều nguồn cả hai phía ghi lại.
Hagia Sophia đã thay đổi thế nào sau năm 1453?
Công trình được chuyển thành thánh đường Hồi giáo, về sau được thêm các tháp minaret và nhiều tranh khảm được phủ lớp vữa. Năm 1934 nó thành bảo tàng, và từ năm 2020 lại được dùng làm thánh đường, du khách vẫn tham quan được ngoài giờ cầu nguyện.
Có nên gọi sự kiện năm 1453 là "giải phóng" hay "xâm lược"?
Sử học trung tính thường dùng các từ mô tả như "chinh phục", "thất thủ", "Ottoman chiếm". Mỗi cộng đồng có cách gọi riêng mang theo cảm xúc của mình; khi viết hay học, nên biết các cách gọi ấy nhưng dùng từ mô tả sự kiện.